ĐIỆN DI PROTEIN HUYẾT THANH- XÉT NGHIỆM QUAN TRỌNG TRONG CHUẨN ĐOÁN ĐA U TỦY
Xét nghiệm điện di protein huyết thanh (tên tiếng Anh: Serum Protein Electrophoresis – SPEP) là phương pháp sử dụng dòng điện để tách chiết và phân loại protein trong máu thành các nhóm khác nhau nhằm đo lường các protein cụ thể trong máu, từ đó có cơ sở chẩn đoán một số bệnh. Do đó, xét nghiệm này có thể phân tách và cho chúng ta biết có hay không sự tồn tại của loại kháng thể bệnh lí trong bệnh đa u tủy xương. Cho phép phát hiện sớm u tủy ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng. Theo dõi sự phát triển của khối u ác tính. Theo dõi hiệu quả điều trị của sự điều trị ức chế miễn dịch.
5 nhóm protein thường được xem xét trong quá trình kiểm tra là: Albumin vận chuyển các chất, giúp phát triển và sửa chữa mô. Alpha-1 globulin sản xuất bởi phổi và gan, tăng lên khi cơ thể mắc bệnh viêm nhiễm. Alpha-2 globulin có nhiều chức năng trong cơ thể và có liên quan đến viêm. Beta globulin giúp vận chuyển các chất, hỗ trợ khả năng miễn dịch và thường tăng SL trong bệnh đa u tủy, XVĐM, cholesterol cao. Gamma globulin hỗ trợ hệ thống miễn dịch, tăng số lượng trong bệnh đa u tủy, viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ HT.
Tùy thuộc vào từng phòng xét nghiệm mà giá trị bình thường của chỉ số xét nghiệm điện di protein huyết thanh có thể chênh lệch ít nhiều. Tuy nhiên, đa số giá trị bình thường đều nằm trong khoảng sau:
Albumin: từ 3,8 đến 5.0g/ dL (38 - 50g/L đơn vị SI); A1 Globulin: 0,1 - 0.3g/dL (1 - 3g/L đơn vị SI); A2 Globulin: 0,6 - 1,0 g /dL (6 - 10g/L đơn vị SI); B Globulin: 0,7 - 1,4 g /dL (7 - 14g/L đơn vị SI); G Globulin: 0,7 - 1,6 g /dL (7 - 16g/L đơn vị SI).
Hiện nay, tại Khoa Sinh Hóa, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang đang triển khai thực hiện xét nghiệm điện di Protein huyết thanh trên máy phân tích: MINICAP FP, với công nghệ điện di mao quản (công nghệ tiên tiến nhất nhiện nay). Có độ chính xác và độ tin cậy cao.

Máy xét nghiệm điện di protein huyết thanh
CN. Nguyễn Thị Thảo Như – Khoa Sinh hóa